NHỮNG LOẠI NÔNG CỤ DÙNG LÀM ĐẤT VÀ DÙNG TRONG GIEO TRỒNG

1/ Cái cày :

Cái cày là biểu hiện của nền văn minh lúa nước. Cái cày xuất hiện đánh dấu một bước ngoặt của nghề trồng trọt, giải phóng phần nào sức lực con người, năng suất cây trồng lên cao. Cày xuất hiện cũng là thời điểm con người dùng sức kéo của con vật trong việc sản xuất nông nghiệp, đó là dùng con trâu, con bò. Ở các nước Tây phương sức kéo thường là con ngựa. Sức lực của người nông dân trong việc cày ruộng đổ ra rất nhiều so với việc dùng cuốc, dùng mai nên con người phải dùng con trâu con bò phụ giúp,

Cái cày của người nông dân ngày xưa ở trong tỉnh sử dụng còn đơn sơ lắm, hầu hết đều làm bằng gỗ, chỉ có cái lưỡi cày là làm bằng sắt. Cái cày là một công cụ dùng để xới đất, lật lớp đất lên trước khi trồng trọt. Cái cày được kéo bằng trâu hay bò, kéo với 1 con hay 2 con.

Cái cày có hình dáng khác nhau cho phù hợp với thổ nhưỡng từng địa phương. Do đó, cái cày miền Bắc khác với cái cày miền Trung, miền Nam. Vùng đồng bằng Bắc bộ có cày chìa vôi, còn cái cày ở miền Trung như nông dân ngày xưa dùng trong tỉnh Khánh Hòa có hai loại : cày náng và cày đỏi khác với cái cày miền Bắc.

  1. a)Cày náng, còn gọi là cày nốngcày ống. Cày này chỉ cày đất khô trên đất thổ, không dùng cày ruộng nước. Cày náng hiện nay tại Khánh Hoà không ai dùng nữa nên mất hẳn dấu tích.

Cày náng gồm có : chuôi cày, mỏ cày, trạnh cày và náng cày.

– Chuôi cày (miền Bắc gọi là tay cày) là để người cày cầm nắm điều khiển cả cái cày khi được trâu hay bò kéo, phần dưới là mỏ cày. Trong khi đó, ở các nơi khác ngoài tỉnh, chuôi cày và mỏ cày (để móc lưỡi cày và trạnh cày) được gắn ghép lại từ các đoạn khác nhau. Chuôi cày náng được chọn từ một cành cây lớn thuộc loại danh mộc, như ké, muồng, căm xe… có hình dáng hơi giống chữ Z, nhưng không gấp khúc mà hơi cong. Sau đó, người ta đẽo nhỏ lại, phần trên là chuôi cày, nối liền với phần dưới là mỏ cày.

– Mỏ cày (miền Bắc gọi là mõm cày) có độ thẳng nằm liền với mặt đất. Phần đầu của mỏ cày đẽo nhọn giống hình cái bắp chuối chẻ hai, gắn vào một lưỡi cày được đúc bằng gang, mặt trước có hình lòng chảo, cạn dần về phía mũi, mặt sau được cấu tạo mộng để tra phần mỏ cày vào. Trên thân lưỡi cày có khoan mấy lỗ để bắt vít cố định vào mỏ cày. Lưỡi cày có nhiệm vụ lật lớp đất khỏi nền. Có lưỡi cày hình thang và hình mũi đục

– Trạnh cày (miền Bắc gọi là diệp cày) trên lưng mỏ cày, cũng đẽo bằng gỗ, hình thang, có tạo cái chốt gắn chặt vào mỏ cày và có thể tháo mở ra thay thế được. Trạnh cày có nhiệm vụ khi cày gạt nhát đất về một phía của luống cày.

– Náng cày (miền Bắc gọi là láng cày) giữ cho mỏ cày và bắp cày ở trong cái thế vững chắc. Náng cày là một đoạn cây to bằng bắp tay, dài hơn 2,5m, rất thẳng, thuộc loại danh mộc để có độ bền lâu, được gắn vào phía dưới chuôi cày cách khoảng 30cm, thẳng đường song song với mỏ cày về phía trước. Ngay chỗ trạnh cày có một cây nọc thẳng đứng xuyên qua náng cày bằng một cái lỗ, bên trên có đóng chốt để náng cày và mỏ cày vững chắc liền nhau. Chính cái trạnh cày được giữ vững trên sóng lưng mỏ cày là nhờ kết tựa thêm vào cây nọc này.

Cuối đầu trước của náng cày, phía dưới có tra một cái móc nài để cột vào sợi dây nài nối liền cái quải  (cái ách) cho trâu hay bò kéo đi.

Cày đất thổ trồng hoa màu phụ, ngoài cày náng ra, còn có cày nống hay cày ống. Hình dáng cày này cũng giống cày náng, chỉ khác náng cày không gắn cố định vào mỏ cày, mà có thể đưa cây náng lên cao hay xuống thấp hơn tùy theo thế đất.

  1. b) Cày đỏidùng để cày trên ruộng nước, không thể dùng cày nángđược

Cày đỏi (Ảnh VTD)

Cày đỏi gồm có :

– Mỏ cày : Mỏ cày đỏi có hình dáng giống mỏ cày náng, chỉ khác là phần dưới chuôi càyđược đẻo phình to hơn. Cày đỏi không có cây náng dài để gắn luôn vào cái quải mà chỉ có cái bắp cày nhỏ hơn bắp chân, hình dẹp, gắn rất chặt vào cái lỗ hình khối chữ nhật ngay chỗ phần chuôi cày được đẽo phình to như nói ở trên.

Để bắp cày có thể lấy ra hay sửa chữa, ngay lỗ tra bắp cày đóng vào một cái mộng (cái chốt) bằng gỗ. Mộng này vừa giữ chặt bắp cày, vừa lấy bắp cày ra dễ dàng bằng cách tháo mộng ra.

(Hình trích trong Tìm hiểu văn hóa Vĩnh Long, sđd, trang 58)

– Lưỡi cày đúc bằng gang, được gắn vào mỏ cày.

– Trước năm 1960 trạnh cày được đẽo bằng gỗ, thường bị mục, hư hỏng sau 5 – 6 mùa cày. Những năm trở về sau, trạnh cày được cải tiến, chế tạo bằng gang và sau đó các bộ phận cái cày cũng được chế tạo bằng sắt cho đến ngày nay. Những chiếc cày gỗ ngày xưa đã không còn dấu tích.

– Cây đỏi : Khi bắt đôi trâu xuống ruộng cày, người ta dùng một dụng cụ nối liền cái cày với cái quải tròng lên cổ đôi trâu, đó là cây đỏi. Cây đỏi dài khoảng 1,5m, làm bằng cây tre đực thật già, đặc ruột, to hơn cán cuốc, hai đầu có tra 2 cái chốt, gọi là con sẻ. Hai đầu cây đỏi nối với cày và bộ quải là 2 cái dây nài. Dây nài được bện xoắn lại bằng mảnh tre cật. Cây đỏi đong đưa như chiếc võng để dễ dàng điều khiển đôi trâu và cái cày khi cày quanh góc ruộng. Cây đỏi đặt vô tháo ra dễ dàng vào sợi dây nài. Nhờ vậy, ngày xưa, người nông dân đang cày ruộng gần núi thấy cọp xuất hiện, cây đỏi trở thành vũ khí tự vệ cho người nông dân. Hay khi có cướp xông vào làng, cây đỏi cũng là một thứ vũ khí chống cướp.

CÁC LOẠI CÀY TRUNG BỘ VIỆT NAM

(Hình trích trong “Tìm hiểu nông cụ cổ truyền Việt Nam” của Ngô Đức Thịnh, trg.102)

(còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *