III. NHỮNG  DỤNG  CỤ  DÙNG TRONG  CHĂM  BÓN,  BẢO VỆ LÚA TRÊN CÁNH ĐỒNG

1/ Gàu tát nước :

Để chăm sóc lúa và hoa màu cần có nước (nhất nước, nhì phân). Ngoài những chân ruộng ăn nước mưa, ở trong tỉnh còn những chân ruộng sử dụng nước ở sông, suối để đưa vào các con mương chảy dọc ngang trên các vùng trồng lúa, chảy vào ao, hồ, đìa cạnh ruộng vườn … Độ chênh lệch giữa nguồn nước tưới và mặt ruộng không cao, cho nên, để chuyển nước từ các con mương lên ruộng lúa, ngày trước chưa có máy bơm, người nông dân dùng một dụng cụ chuyên dụng đơn giản là cái gàu. Gàu là đồ dùng để múc nước, tát nước từ ruộng hay mương nước đổ lên ruộng. Nông dân dùng hai loại gàu khác nhau là gàu dai (có nơi viết giai) và gàu sòng. Nếu chân ruộng và mương nước có độ cao chênh lệch nhau nhiều thì phải tát nước bằng gàu dai. Có người cho rằng dai là âm đọc trại của dây, sợi dây. Gàu dai là gầu có bốn sợi giây dài, hai người tát. Nếu chân ruộng thấp, mức chênh lệch giữa mặt ruộng và nguồn nước chỉ khoảng 0,5m thì thích hợp với gàu sòng. Gàu sòng có cán, được treo vào một cái gạc ba chân bằng tre. Có người cho rằng chữ sòng là do chữ Hán sao 抄, Hán Việt từ điển (sđd) của Đào Duy Anh đã giải thích “sao : lấy thìa mà múc. Thiều Chửu trong Hán Việt tự điển (sđd) cũng đã giải thích sao là múc. Lấy thìa mà múc cháo gọi là saoTát nước bằng gàu sòng có động tác giống như cầm thìa múc đồ ăn. Gàu dai, gàu sòng cũng đi vào nhiều câu ca dao :

Ngày ngày vác cuốc thăm đồng

Hết nước thì lấy gàu sòng tát lên.

Hay :

Ruộng thấp đóng một gàu dai

Ruộng cao thì phải đóng hai gàu sòng,

Nơi thấp tát một gàu dai

Chỗ cao thì lại tát hai gàu sòng.

Cao bờ thì tát gầu dai

Gầu sòng chỉ tát được nơi thấp bờ.

Gàu dai, gàu sòng cũng có những câu ca từ xưa trong tỉnh truyền lại :

Sáng trăng sáng cả cánh đồng

Em đi tát nước gàu sòng gàu dai

Phận em không được làm trai

Nên đành tát nước gàu dai gàu sòng

Một mai lúa tốt nên bông

Lúa chín ngoài đồng em để của riêng …

 

  1. a) Gàu dai:

Gàu dai là một nông cụ bằng tre, có bốn sợi dây cột từ nơi gàu, do hai người đứng đối diện nhau, mỗi người cầm 2 sợi dây, tát nước từ nơi thấp lên nơi cao.

Gàu dai có hình dáng miệng hơi tròn, rộng khoảng 40cm, toàn thân là một khối hình thang cân, cao 40cm. Gàu được đan bằng tre và rất khó đan hơn đan thúng rổ. Khó đan nhất ở chỗ đáy và cuốn miệng gàu. Đáy gàu đan vụng sẽ bị hở nan, nước theo kẽ hở chảy mất nước nhiều. Cuốn miệng gàu đan vụng thì miệng gàu loe ra quá cỡ.

 

Gàu dai

Thân gàu được đan bằng nan tre chẻ mỏng, vót chuốt nhẵn và đều. Thân gầu phải được đan thật kín, nếu không đan được kín thì nước lọt ra ngoài. Ở đáy gàu đầu nan được bắt góc, thợ phải khéo tay không thì nan sẽ gãy. Tất cả đầu nan đều được đưa lên miệng gàu. Tiếp đó là giai đoạn cạp gàu ở miệng gàu.

Miệng gàu có một mảnh tre già uốn cong bao quanh miệng gắn liền bằng sợi mây để giữ miệng gàu khi múc nước, miệng gàu cọ sát với đất ở đáy hay đụng vào bờ tát khỏi hư mòn. Dùng một thanh tre già làm thanh gàu, rộng khoảng 2cm, dày 1cm, dài hơn đường kính của miệng gàu một chút, hai đầu đục 2 lỗ nhỏ hình chữ nhật để phần nhô cao của nẹp gàu chui qua. Thanh gàu bắc ngang qua giữa miệng gàu.

Nẹp gàu làm bằng thanh tre già, rộng khoảng 3cm, dài bằng thân gàu được nẹp vào thân gàu, trên miệng gàu kết với thanh gàu.

Đáy gàu cũng được làm bằng một đoạn tre già có chiều rộng 2cm, đục 2 lỗ 2 đầu cho nẹp gàu luồn qua, cố định với đáy gàu bằng sợi mây buộc chặt.

Gàu dai có 4 sợi dây, 2 sợi dây cột ở miệng gàu và 2 sợi dây cột ở đáy gàu. Hai sợi dây ở miệng gàu cột vào hai bên thanh gàu, 2 sợi dây cột ở đáy gàu cột vào chỗ giao nhau giữa nẹp gàu và hai đầu thanh tre. Hai sợi dây gàu ở miệng gàu phải ngắn hơn 2 sợi dây đáy gàu.  Tuy nhiên độ dài có tương xứng thì mới kéo nước lên được và hai người tát nước mới đỡ mệt nhọc. Muốn có độ tương xứng nhau giữa 2 sợi dây miệng và 2 sợi dây đáy, phương cách làm như sau :

Trước tiên, cột 2 sợi dây miệng gàu có độ dài tùy theo mặt nước cao hay thấp. Sau đó cột 2 sợi dây đáy gàu, rồi kéo đo sợi dây này sát theo thành gàu từ đáy lên ngang chỗ cột dây miệng gàu. Từ chỗ đó, kéo 2 sợi dây đáy gàu lên bằng 2 sợi dây miệng gàu. Nếu hai người tát nước cao bằng nhau thì độ dài của mỗi bên gàu bằng nhau. Nếu người bên nào thấp hơn thì phải thâu đầu phía bên mình ngắn lại vài cm. Người cao mà khỏe thì phải đứng phía đất cao hơn để kéo vớt bớt cho người yếu đứng bên thế đất thấp. Hai người tát nước cũng phải thử tát vài gàu, từ đó điều chỉnh dây, làm sao gàu múc được đầy nước và khi đổ nước vào giữa nơi định đổ.

Hai người tát nước, mỗi người cầm một sợi dây miệng và một sợi dây đáy. Nơi đầu mỗi dây có một ống tre để cầm, không thì khi tát nước sẽ bị đau tay. Dùng ống tre cái già, nhỏ bằng ngón chân, dài khoảng 13cm, rỗng ruột đủ cho sợi dây gàu xuyên qua, cột lại thành cái quai. Người tát nước cầm cái quai đó không những không đau tay khi tát nước mà còn thấy dễ dàng thỏa mái trong công việc lao động này.

Tát nước bằng gàu dai không phải dễ cho những người lần đầu tiên thực hiện công việc này. Hai người tát phải tuân theo một số động tác nhất định.

Tát nước bằng gàu dai

Khi tát nước, hai người cầm dây gàu đứng đối diện nhau. Tay nào cầm dây miệng thì bàn chân cùng phía phải đứng cao hơn và cách chân kia ít nhất 1 bàn chân về phía trước. Khi thả gàu xuống nước, tay cầm dây đáy gàu phải thả xuống thật thấp để đáy gàu chìm xuống cho nước tràn vô đầy gàu. Lúc kéo gàu lên, tay cầm dây miệng gàu tập trung sức kéo lên, tay cầm dây đáy gàu thả lỏng, hơi ngả người ra phía sau. Lúc này chân sau phải đứng thẳng cho vững, bàn chân trước giở hẳn lên chỉ còn cái gót chạm đất. Khi gàu tát nước được kéo vừa đến miệng bờ bên trên, tức thì tay cầm dây đáy hất mạnh lên cho nước trong gàu đổ ra, trong lúc dây miệng gàu để chùng lại. Sau khi gàu đổ hết nước ra, đưa gàu xuống chuẩn bị múc nước vào gàu. Các động tác cứ thế mà tiếp diễn.

 

  1. b) Gàu sòng:

Gàu sòng cũng là một nông cụ bằng tre có hình trụ nửa ống (giống như hình nửa chiếc ghe nhỏ), có cán dài treo vào cái gạc 3 chân, một người tát, đưa nước vào các ruộng ở bậc thấp, phẳng, không có triền dốc.

Gàu sòng có những bộ phận sau :

Tát nước bằng gàu sòng

– Chân gàu làm bằng ba đoạn tre, một dài hai ngắn. Đoạn tre dài, gốc to ngọn nhỏ, tiếng địa phương gọi là cột vọt là một đoạn tre cái, dài khoảng 3 – 3,2m, đoạn giữa có đường kính khoảng 4cm. Hai đoạn tre ngắn là 2 đoạn tre chẻ đôi có đường kính khoảng 6 – 7cm, dài khoảng từ 2 – 2,5m. Để tạo một thế chân vạc, 3 đoạn tre chụm vào nhau, liên kết lại bẳng một đoạn tre xỏ qua 3 cái lỗ đã đục sẵn trên 3 đoạn tre. Khi chống 3 cột xuống đất, 2 đoạn tre ngắn được dựng đối xứng và chụm đầu vào nhau như hình chữ V lộn ngược. Còn cột vọt cũng chụm đầu vào 2 cột kia và ngã xoài theo hướng hoạt động của gàu.

– Thân gàu được làm bằng nan tre cật vót nhẵn. Tấm đan được cạp lại có hình một nửa hình trụ tròn, nhỏ và cạn dần về phía sau. Thân gàu dài khoảng 75 – 80 cm, đường kính miệng khoảng 22 – 25 cm. Nơi miệng gàu có một thanh tre có bề rộng 3cm, dày 1cm, độ dài hơn đường kính miệng gàu một chút nối hai bên miệng gàu lại để thân gàu thành một nửa hình trụ tròn. Đoạn tre này được buộc chặt vào thân gàu. Người ta còn dùng những đoạn cật tre già, rộng khoảng 2,5cm, dày 0,2cm có chiều dài bằng chiều dài thân gàu nẹp chặt phía bên ngoài thân gàu, tăng cường độ cứng khỏe của thân gàu.

Gắn vào miệng gàu, người ta dùng một thanh tre cái già uốn cong vừa bằng miệng gàu, bề rộng từ 6-8cm, dày khoảng 0,2cm, dùng ghim tre, dây cột gắn chặt vào miệng gàu. Đây là nơi tiếp giáp với nước, “múc” nước lên gàu theo động tác của người tát.

Để sử dụng thân gàu tát nước, phải có một cán gàu, là một đoạn tre già, cứng chắc, có độ to đủ để người tát nắm vào. Cán gàu có bề dài từ 2,3m – 2,6m, dài hơn thân gàu nhiều lần. Người ta đặt cán gàu nằm song song với thân gàu, đầu cán gàu buộc chặt vào giữa thanh tre nơi miệng gàu, cuối thân gàu nơi cán gàu đi qua cũng buộc chặt vào.

Một sợi dây thừng được nối từ đỉnh của cần vọt đến cán gàu, nơi giữa thân gàu. Tùy theo độ cao và mức nước ở mương mà người ta điều chỉnh dài ngắn sợi dây thừng này.

Trước khi tát nước bằng gàu sòng, người tát phải chọn vị trí đặt gàu, nơi đứng tát, mức nước … Sau đó, phải tát thử rồi điều chỉnh nơi đặt gàu, sợi dây thừng … Người tát đứng hướng mặt theo chiều dọc của gàu, hai tay nắm khoảng cuối của cán gàu, dùng lực đưa gàu xuống nước múc lên rồi đẩy gàu vào ruộng đổ nước ra.

Gàu sòng có lượng nước gấp đôi gàu dai, chỉ cần một người tát, nhưng mang vác nặng nề, cồng kềnh.

Ngày nay, máy bơm nước dùng xăng hay điện thay dần gàu dai, gàu sòng.

 

Máy bơm nước

Theo Ngô Đức Thịnh (sđd), loại gầu dai và gầu sòng không chỉ sử dụng ở nước ta, mà còn phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, kể cả Đông Á, Nam Á, châu Âu. Loại gầu dai hai người kéo là dạng tiến triển của loại gầu dai một người kéo, còn đầu dây bên kia buộc vào gốc cây hay cái cọc cố định, mà người ta còn quan sát thấy người nông dân Nhật Bản sử dụng vào khoảng thế kỷ XVIII. Ở nước ta, chắc gầu dai cũng như gầu sòng là các dụng cụ tát nước có từ khá cổ xưa… (trang 170)

2/ Cái cào cỏ dưới nước :

Cái cào cỏ có 2 loại : – Loại dùng để cào rơm rạ trên khô, dùng để khi đạp lúa, khi phơi rơm. – Loại cào cỏ dùng để cào trên ruộng nước, cào nhau lúa hay cỏ bị héo úa khi cây lúa còn nhỏ, chưa trổ bông.

Cái cào cỏ dưới nước :

Hình dáng loại cào cỏ này giống như cái bừa, gồ ghề, nặng nề hơn cái cào cỏ trên khô. Cán cào thì làm bằng tre, nhưng lưỡi cào thì làm bằng sắt có một hàng răng khoảng 15-17 cái. Cái cào này ít được sử dụng, không đa năng. Người nông dân chỉ sử dụng cào này khi cây lúa đang tuổi làm đòng, có nhiều nhau rạ, hay cỏ úa héo xung quanh gốc lúa … để làm sạch ruộng. Gọi là cái bừa cỏ thì đúng hơn.

 

                              Cái cào sắt (Ảnh NVB)                   Cào sắt cào cỏ bờ

 

3/ Cái bò cạp : 

Bò cạp không phải là một nông cụ làm ruộng, nó là một dụng cụ dùng để đuổi chim ăn lúa trong việc bảo vệ cây lúa vừa mới ra bông. Theo Đại Nam quấc âm tự vị (sđd) của Huình Tịnh Paulus Của, cái bò cạp được giải thích như sau : “ Đồ đuổi chim, thường dùng một cây tre chẻ ra hai mép, cột dây một mép mà giựt cho nó đánh nhập lại cùng kêu ra tiếng; đồ dùng mà bắt đinh giống cái bò cạp” (trg. 105). Theo tác giả, cái kềm nhổ đinh còn gọi là cái bò cạp vì nó giống cái bò cạp đuổi chim mà tác giả đã miêu tả ở trên. Hầu hết ngày xưa ở xóm làng trong tỉnh Khánh Hòa hộ nông dân nào cũng có cái bò cạp đuổi chim này, có cả loại lớn lẫn loại nhỏ. Tiếng địa phương trong tỉnh không gọi cái bò cạp mà gọi là cái bồ cạp.

Lúa ngoài ruộng vừa nẩy mầm gieo trên đám sướng mạ hay những đám lúa nếp trổ chín sớm lẻ loi … loài chim thường đáp xuống ăn, phá. Thời gian chim ăn phá thường lúc trời mát gần tối, hay buổi sáng sớm. Lúc đó, trên những cánh đồng vang lên những tiếng nổ lốp bốp kéo thành chuỗi dài, đó là tiếng động của cái bồ cạp.

Bồ cạp dài đứng gọi là bồ cạp dựng. Người ta dùng một đoạn tre lớn, thật thẳng, cao ngang tầm người. Khúc tre có nhiều lóng (đốt). Người ta chẻ cây tre ra làm đôi, để nguyên 2 lóng dưới cùng, không chẻ. Ngay lóng tre cách lóng cuối cùng, người ta dùng dây rừng hay dây kẽm buộc chặt lại, mục đích là khi sử dụng bồ cạp, lóng tre cuối không bị tách ra. Đoạn tách làm ra ở phần trên được vạt chuốc cho hai bên đều nhau.

Khi thấy chim bay đến ăn phá lúa nếp, người canh giữ ruộng dựng đứng cây bồ cạp cỡ lớn này lên, một chân giậm giữ gốc cây bồ cạp, hai tay cùng nắm vào một bên sóng hai lóng tre đã vạt chuốt rồi giật mạnh liên tiếp. Đoạn tre chẻ làm hai ở phần trên tách ra rồi đập mạnh liên hồi vào nhau phát ra một âm thanh lốp bốp như tiếng pháo chuột. Bầy chim kéo đến, nghe tiếng nổ, hoảng sợ vội bay đi mất.

Còn cái bồ cạp cỡ nhỏ thì chọn cây tre nhỏ rỗng ruột, hình dáng như cây bồ cạp dựng, nhưng bề dài ngắn hơn, dùng để cầm trên tay mà nhịp.

Qua mùa gặt, bồ cạp không dùng nữa, người ta gác lên gác bếp cho khói bám vào tránh mối mọt ăn. Do đó, cái bồ cạp có thể lưu truyền được nhiều đời.

Người làng quê Khánh Hòa có cụm từ “lạnh giựt bồ cạp” để diễn tả người bị mưa dầm ướt lạnh tay chân run, hàm răng đập vào nhau liên hồi, y như độ nhịp của cái bồ cạp khi đuổi chim.

 

4/ Thằng bù nhìn :

Nếu như cái bồ cạp phát ra tiếng nổ để dọa lũ chim phá lúa thì thằng bù nhìn là một hình ảnh giống như con người đứng giữa đám ruộng thị uy, dọa dẫm đám chim chóc, dẹp giống chim muông xa phải lánh  / Dễ quân cày cuốc gọi không thưa như bài thơ Thằng bù nhìn của vua Lê Thánh Tông.

Người ta có thể làm thằng bù nhìn bằng nhiều cách. Có cách bện bằng rơm rạ, phần cốt bên trong làm bằng cây, cũng đủ đầu mặt, thân mình, tay chân. Mặt bù nhìn được làm bằng mo cau, dùng vôi đỏ hay sơn đỏ vẽ mắt mũi, miệng, trang trí mặt mày sao cho dữ tợn, cổ quái. Sau đó, dùng chiếc áo cũ rách, bạc màu mặc vào và lấy một chiếc nón cời (nón cũ, rách) đội lên đầu. Hai chân cho đứng dang ra. Một tay chống “cây giáo” thị uy, một tay cầm cây cờ vải phất phơ trước gió (Vùng vẫy trên tay một lá cờ  – Lê Thánh Tông). Lúc trời có gió, thằng bù nhìn múa may trông như thật với hai cánh tay dang ra, cái nón lắc lư và cái áo đôi lúc phồng lên như đang ưỡn ngực ra một cách oai vệ. Lũ chim trông thấy nó khác gì như ta trông thấy cọp. Để xua đuổi lũ két lì lợm, người ta còn đeo thêm một cái mõ tre hay một chùm lục lạc, gió lay, mõ kêu, chuông rung leng keng suốt ngày đêm ở giữa đồng, ngay chúa sơn lâm cũng e ngại.

Để đuổi heo rừng từ núi ra cắn phá lúa trên những cánh đồng ven núi, người ta dùng nước tiểu người đựng trong hủ, ủ nhiều ngày cho nước tiểu lên mùi nồng nặc, rồi đem đổ lên đầu thằng bù nhìn. Mùi hôi thúi theo gió lan tỏa ra, heo rừng tưởng có người canh giữ ruộng nên ít dám kéo bầy ra cắn phá lúa.

Có những câu chuyện dân gian về thằng bù nhìn này được lưu truyền trong một số huyện, như chuyện thằng bù nhìn chịu đòn thay. Có một anh chồng bị vợ nói hỗn, anh quá tức giận định đánh vợ, nhưng sợ vợ đau. Trong cơn nộ khí xung thiên, anh chụp lấy cây hèo, chạy ra cánh đồng cứ nhằm vào thằng bù nhìn mà đập tới tấp cho đến khi thằng bù nhìn xơ xác mới hả cơn. Chị vợ quá sợ hãi, đứng núp bên gốc cây. Vừa lúc đó, chủ ruộng đến thấy thế, bắt anh chồng phải làm thằng bù nhìn khác để đền lại cho ông.

Ngày nay, chim chóc bị đánh bắt hàng loạt phục vụ cho các nhà hàng,  cho việc phóng sinh, chim còn nhiều đâu mà người ta làm bù nhìn đứng giữa đồng ngày đêm canh gác. Không còn chim thì còn sâu, những con sâu đủ loại đêm ngày cắn phá lúa. Và không phải thằng bù nhìn mà chính những người nông dân, với những chiếc áo cũ bạc màu, trên đầu là chiếc nón cời, trên lưng là bình đựng nặng thuốc trừ sâu, trên tay cầm cần xịt, kiên nhẫn đi lại trên đám ruộng xịt rãi trên những cây lúa những thứ thuốc độc cho sâu bọ chết. Ngày nay, tìm đâu ra thằng bù nhìn cho thi sĩ Tản Đà (1889-1939) đến thăm :

Lơ láo kìa ai đứng cạnh bờ

Trần ai tri kỷ đã ai chưa?

Ba thu mưa gió người trơ mộc

Bốn mặt giang sơn áo phất cờ

Được việc thế thôi, cày chẳng biết

Khinh đời ra dáng, gọi không thưa

Lâu nay thiên hạ văn minh cả

Bác mấy ngàn năm vẫn thế ư ?

(Thăm thằng bù nhìn – Tản Đà)

 

Bù nhìn

5/ Cái áo tơi :

Cái áo tơi không phải là một nông cụ nhưng lại là một vật dụng cần thiết cho người nông dân trong việc làm ruộng (đi nhổ mạ, cấy lúa …giữa trời nắng hay mưa). Những người chăn trâu bò, chăn vịt đàn thả rông trong những tháng ngày mưa gió của một thuở xa xưa, cái áo tơi cũng giúp họ rất nhiều. Cái áo tơi thật cồng kềnh, không gọn gàng, thiếu thẩm mỹ, nhưng khi đem ra sử dụng trong những ngày mưa to gió lớn thấy nó thật hữu dụng.

Người nông dân đội nón gụ, loại nón nhỏ vành chằm bằng lá buông, choàng cái tơi vào mình phủ đến quá gối, đi đứng trong cơn mưa gió lạnh thì không bao giờ bị ướt mình và thấy ấm áp nữa. Với chiếc áo tơi, những người nông dân có thể đứng dưới mưa gió suốt ngày họ vẫn chịu được. Hay khi trời nắng gắt, đi cấy, nhổ mạ cái áo tơi không làm rát lưng. Cái áo tơi không chỉ những người nông dân sử dụng mà những người dân các ngành nghề khác, những quan lại, hào phú … khi ra đường gặp trời mưa gió cũng khoác lấy cái áo tơi này. Vì thế, áo tơi cũng được bày bán ở các chợ huyện, chợ xã.

 

Áo tơi

Làm một cái áo tơi cho đúng mẫu mã, có độ bền phải qua những công đoạn tỉ mỉ, công phu.

Áo tơi được làm bằng lá cọ chằm nón có ở trên núi. Tàu lá non thì dùng chằm nón, tàu lá già thì dùng chằm áo tơi. Tàu lá chằm áo tơi được đem phơi vừa khô rồi tách ra từng miếng rộng bằng 2 ngón tay, tiếp đó làm cho lá được thẳng mặt ra bằng cách sau :

Bỏ vào cái chậu sành một số than hồng, chung quanh trên mặt chậu đặt 3 cục đá như táo bếp. Bên trên ba cục đá đó đặt một miếng chảo gang đã hư, bể nung cho nóng. Dùng cát khô khoảng 2 nắm tay bỏ vào 2 miếng vải dày bó thành chùm cột chặt lại. Khi miếng gang bể nóng đều, lấy miếng lá đặt lên miếng gang, tay kia cầm chùm cát đè  mạnh lên, tay cầm miếng lá kéo mạnh và nhanh miếng lá qua khỏi chỗ đè. Miếng lá như được ủi bằng bàn ủi nóng nên thẳng mặt ra. Các miếng lá còn lại cũng làm như thế để cuối cùng ta có một thành phẩm chằm cái ái tơi.

Công đoạn tiếp theo là làm cái sườn áo tơi. Dùng cây mây rừng chẻ vót thành những cây nan, dài hơn 1m, to bằng ngón tay út để làm sườn dọc và chẻ vót những sợi mây nhỏ hơn bằng cây đũa. Những sợi mây này cột vào những cây nan dọc bằng sợi dây mây cách đều nhau 4cm, tạo thành một cái khung tròn, nhưng không liền mối, cho hở ra 4 – 5cm, gọi là cửa tơi hay bâu áo tơi. Đầu trên áo tơi gầy nan mây, tóm gọn hai bên bờ vai, rồi bo tròn cổ tơi lại giống như cái áo cổ kiềng truyền thống. Thế là xong cái sườn tơi để chuẩn bị chằm lá vào.

Chằm lá vào áo tơi phải cần những “sợi chỉ” để may áo tơi. “Sợi chỉ” là những sợi mây dài, mỏng độ vài milimet, vót suôn láng, hai đầu vót nhọn. Ngoài ra còn chẻ một số tăm dài 4 – 5cm, hai đầu vót nhọn để sau này cài các mảnh lá lên sườn áo để may.

Sườn tơi được treo lên một cái cột trụ khỏi mặt đất khoảng 0,6 – 0,7m, giữ sườn cố định không cho dịch chuyển. Lấy những miếng lá đã vuốt thẳng gấp đôi lại máng từng miếng lên vòng sườn ngang, chồng các mí lá lên nhau, khăng khít bao quanh từng sườn, tuần tự từ vòng dưới lên vòng trên. Mỗi khi xếp từng lá liền mí nhau, dùng cây tăm nhọn ghim giữ miếng lá này với miếng lá liền trước. Còn phần miếng lá khởi đầu kề với bâu áo tơi gắn kết chặt vào bâu áo. Sau một vòng lá kết bao quanh sườn áo, lấy “sợi chỉ” mây may các lá dính lại với nhau. Vòng lá ở tầng trên phủ xuống phải nằm phía ngoài tầng lá ở vòng dưới, sợi chỉ may may chồng lên 2 lớp lá đó. Cứ giáp một vòng may xong, những cây tăm nhọn được rút ra. Cứ thế mà may cho hết. Khi may xong rồi, tạo thành một hình ống rộng, các lá xếp lên nhau rất gắn kết, không xê dịch được.

Hai đường bâu phía trước áo tơi, dùng chỉ mây kết gọn lá từ trên trở xuống. Ngay hai bên trước cổ kiềng, tra thêm 2 sợi dây vải để khi mang tơi vào cột lại quanh cổ.

Chiếc áo tơi vá may như thế tốn nhiều công. Trọng lượng áo có thể đến 4 – 5 kg. Một chiếc áo tơi tốt và biết bảo quản (không để chuột cắn, vướng vào vật nhọn làm rách áo, đứt chỉ …) có thể sử dụng 3 – 4 mùa mưa gió hay lâu hơn nữa. Áo tơi có nhược điểm là không gấp gọn được, khi dùng phải kèm thêm nón … Sau này có áo đi mưa làm bằng ni lông khi người Pháp qua đô hộ nước ta, mặc vào đi trong mưa có kèm mũ đội, không những không ướt mà còn ấm nữa. Từ đó, chiếc áo tơi đi vào dĩ vãng…

Cái áo tơi, có người nói rằng có liên hệ đến câu thành ngữ nghèo rớt mồng (mùng) tơi. Trong sách Kể chuyện thành ngữ tục ngữ của Hoàng Văn Hành (sđd) (NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002) có viết : “ Có người mách rằng, nghèo rớt mồng tơi là một từ địa phương ở vùng Nghệ Tĩnh, Quảng Bình có nghĩa là rơi, rụng. Tơi là áo tơi, loại đồ dùng kết bằng thứ lá giống như lá cọ, dùng che mưa, che nắng, gặp rất phổ biến ở bà con nông dân các tỉnh từ Thanh Hóa đến Quảng Bình. Còn mùng tơi là phần trên của tơi. Phần này được kết dày và bằng các dọc lá tốt, bền, lâu bị rụng (rớt). Thông thường, khi áo tơi hỏng, rách nát, không dùng được nữa thì phần trên cùng của áo, tức là mùng tơi vẫn còn nguyên. Nhà khá giả sẽ mua lá chằm (kết) áo tơi mới. Nhà nghèo túng thì chưa kết áo tơi mới ngay được, mà cứ dùng cái áo tơi rách cũ, chân áo và thân áo rơi rụng gần hết, chỉ còn lại phần vai áo, tức mùng tơi ngắn cũn cỡn. Đã thế, có nhà vì nghèo quá, cứ phải mang mãi cái mùng tơi ấy cho đến khi rớt (rơi rụng) gần hết dọc mà vẫn mang. Không bao giờ kiếm được chiếc áo tơi mới lành ! “ (trang 348-349).

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *