IV NHỮNG  NÔNG CỤ  DÙNG TRONG THU HOẠCH LÚA

1/ Vòng hái :

Dân địa phương có câu đố : Cái gì có vòi không phải con voi / Nó thấy lúa chín nó đòi ăn ngay ? Đó chính là cái vòng hái. Tự điển của Huình Tịnh Paulus Của (sđd) định nghĩa vòng hái là cái vòng bằng cây có thể tra lưỡi hái. Vòng hái dùng để gặt lúa. Đã là đi gặt hái, thời trước, ai cũng có ít nhất một cái vòng hái, phù hợp với những chân ruộng trũng.

Vòng hái có hai bộ phận : Phần vòng hái và lưỡi hái.

Phần vòng hái có hình chữ V không đều hai nét. Vòng hái thường làm bằng một đoạn cây rừng, loại cây nhẹ như cây còng, cây mù u, cây quao …, sau khi chặt về người ta còn phải chuốt gọt lại cho vừa kích cỡ. Vòng hái còn làm bằng nhánh cây tre già đặc ruột. Người ta còn làm vòng hái bằng gỗ, hai cạnh chữ V được ghép chặt lại bằng mộng hay vặn vít.

Vòng hái tuy có hình chữ V nhưng có một cạnh thẳng đứng chứ không xiên như trong chữ V, có độ lớn bằng cán rựa (đường kính khoảng 3 – 4cm), dài khoảng 0,6m, đó là tay cầm của người gặt. Một mặt cuối thanh, ngay chỗ tay cầm vòng hái, người ta đục khoét một đường rãnh hình chữ nhật, rộng 1cm, dài 10cm và sâu vào 1cm. Phía mặt bên kia, người ta kẽ sâu một đường dài khoảng 2cm, sâu 1mm phía trên đường mặt kia.

Cạnh còn lại của chữ V có đường kính của thanh nhỏ hơn nhưng có chiều dài dài hơn và hơi vòng cong ra phía ngoài, mũi được vót nhọn, đường kính có xu hướng nhỏ dần về phía mũi.

Lưỡi hái, phần lưỡi dài 20cm, đầu bằng, phần chuôi dài có móc để tra vào thanh vòng. Khi dùng vào việc gặt lúa, người ta lấy chiếc lưỡi hái tra vào cái rãnh ở thanh thẳng, ấn qua đường kẽ nhỏ, phần đuôi còn lại có mũi nhọn bấm chặt vào lòng của đường rãnh. Sau đó, dùng một mảnh tre có độ dài và rộng đậy vừa khít cái rãnh, rồi buộc dây lại cho chặt để khi cắt lúa, lưỡi hái không lung lay, hay bật cái đuôi nhọn ra ngoài làm trở ngại bàn tay cầm vòng hái gặt lúa.

Vòng hái (Ảnh Internet)

Cách cầm vòng hái gặt lúa :

Những người bước đầu tập cầm vòng hái để cắt lúa họ luôn được dặn dò phải thận trọng, động tác từ từ, nếu làm nhanh, họ sẽ dễ bị lưỡi hái cắt đứt tay. Khi sử dụng đã thành thạo rồi thì đôi tay họ làm rất nhanh nhẹn, nhịp nhàng và liên tục.

Khi gặt lúa, dù cầm vòng hái tay mặt hay tay trái, lúc nào cái vòng nhỏ hơi cong (thanh B) cũng phải quay vô trong, còn lưỡi hái ở thanh A có đường lưỡi răng bén quay thì ra ngoài ngay chỗ tay cầm. Khi gặt, người gặt phải khom lưng xuống. Nếu lúa không bị ngã thì chỉ hơi khom lưng, còn lúa bị ngã rạp  thì phải cúi lưng nhiều.

Người gặt cầm vòng hái đưa cái thanh dài bao tóm cây lúa dồn vào góc nhọn bên trong, nếu lúa ngã thì phải xốc dựng lên. Người gặt gom tóm sao cho số cây lúa mà mình sắp cắt chỉ vừa đủ một nắm tay, không được nhiều quá hay ít quá. Nếu tay phải cầm vòng hái thì tay trái phải nắm lấy bông lúa bằng các thao tác sau :

Khi chùm cây lúa được tóm gọn vào góc trước của vòng hái rồi, tay trái liền túm gọn bó lúa, nắm chặt lại vào giữa ngón tay trỏ và ngón tay cái, không nắm hết bàn tay. Đoạn quay lưỡi hái vô phía trong, cắt ngang cổ cây lúa dưới tay nắm chừng một gang tay (gần 20cm), không nên cắt gần lên, lưỡi hái sẽ dễ cắt nhằm ngón tay út. Nắm lúa đã cắt vẫn giữ yên trong ngón tay cái và tay trỏ. Rồi đến giai đoạn cắt tiếp theo, tóm một nắm lúa khác bằng ngón tay giữa với ngón cái, cắt, tiếp đó, tóm nắm lúa nữa bằng ngón tay áp út với ngón cái, cắt, cuối cùng tóm nắm lúa khác nữa giữa ngón tay út với ngón cái …Như vậy, đến đây, trên tay có 4 nắm lúa sau 4 lần cắt, gọi là 1 “tay lúa”, người ta đặt “tay lúa” đó xuống ruộng. Gặt 4 hay 5 lần như thế là đủ một “bó lúa”. rồi dùng “lạt” cột lại. “Lạt” để cột, đây là một chùm cây lúa cắt sát gốc. “Chùm lạt” ấy chia làm hai nắm nhỏ, một nắm có hạt quay lộn đầu nhập vào nắm kia, sau đó, đặt bó lúa lên, cột tròn lại bằng cách nắm hai đầu “lạt” quay xoắn lại với nhau cho chắc chắn.

Khi cắt lúa không phải người cắt muốn cắt chỗ nào cũng được, như thế sẽ gây sự lộn xộn, không rõ ai cắt được bao nhiêu lúa để tính công. Họ phải sắp hàng, cắt lần tới trước theo một lối riêng của mỗi người. “Bó lúa” của ai người ấy cột, không lộn với “bó lúa” người khác.

Ngày nay, giống lúa mới không cao, nông dân cắt bằng lưỡi liềm, cái vòng hái dần dần biến mất.

Gặt lúa bằng vòng hái (ảnh Tư liệu)

2/ Chiếc liềm :

Khi vòng hái không còn sử dụng nữa dần dần thay thế bằng chiếc liềm, đơn giản, tiện lợi hơn. Nông dân cắt lúa bằng cái liềm cho đến tận ngày nay. Đó là có sự thay đổi về đối tượng thu hoạch dẫn đến sự thay đổi nông cụ thu hoạch.  Sự thay thế vòng hái bằng cái liềm do sự thay đổi giống lúa mới sau này. Vòng hái chỉ thích hợp gặt lúa thân cao, khi chuyển sang giống lúa thân thấp thì vòng hái trở nên quá lớn, không giữ được bó lúa để cắt. Giống lúa mới có cây thấp, cứng, dùng liềm cắt cả thân, tiện lợi, đơn giản và nhanh hơn. Hơn nữa, nhờ hệ thống thủy lợi điều hòa nên đến mùa thu hoạch, ruộng khô và cái liềm rất thích hợp cắt lúa ở ruộng khô. Hơn nữa, rạ càng ngày càng là nhu cầu để đun và lợp nhà nên cắt lúa bằng liềm thu hoạch rạ nhiều hơn. Việc chăn nuôi trâu bò cũng cần có thức ăn và cái liềm là một dụng cụ tiện dụng cho việc cắt cỏ. Vì những nhu cầu dó, cái liềm càng ngày càng thông dụng và được người nông dân sử dụng đến ngày nay, nhất là việc cắt lúa thay vòng hái.

Dùng liềm cắt lúa cắt sát gốc, tận thu được lúa không bị sót, hạt lúa ít rụng và rạ không bị nát. Tuy nhiên, đối với ruộng nước, dùng liềm cắt lúa không có lợi thế, và khi không cần dùng rạ thì dùng liềm cắt tốn công hơn.

Liềm có nhiều loại, loại dùng để cắt lúa (liềm cắt lúa) và loại dùng để cắt cỏ, cắt xén những vật cứng khác (liềm xén). Về kích thước, liềm cũng có loại to, nhỏ, trung bình, cắt lúa thì dùng liềm loại lớn. Về hình dáng có loại liềm được so sánh với mỏ con chim giang (chim thuộc loại cò, dài và cong) gọi là liềm mỏ giang và so sánh với mỏ con hạc (mỏ chim hạc có cổ và mỏ dài), gọi là liềm mỏ hạc. Liềm mỏ giang ít cong, liềm mỏ hạc cong nhiều hơn.

Nói chung, chiếc liềm có cán liềm bằng gỗ (dài khoảng 8 – 10cm), thân liềm bằng sắt hình vòng cung, dài khoảng 25cm, cong như trăng lưỡi liềm, mũi nhọn, lưỡi có răng (cắt chấu) được giũa thành hàng nhọn rất bén, bản lưỡi thì bầu ở giữa. Phần cuối thân liềm được rèn nhỏ lại, có đầu nhọn để gắn vào cán gỗ tròn, ngắn, vừa tay cầm, theo hướng trục dọc của thân lưỡi, có khuy bằng sắt lồng vào cho chắc.

Nông dân dùng liềm để cắt lúa hay cắt cỏ, cắt rau, cắt dây khoai lang … Ngày trước, ở ruộng khô, người ta dùng liềm để cắt sát gốc lúa. Thân lúa, phần dưới gọi là rạ, phần trên gọi là rơm. Người ta thu hoạch rạ về để làm chất đốt đun bếp hay đốt lò, còn rơm thì phơi khô để dành làm thức ăn cho trâu bò ăn mùa mưa lụt hay đánh thành những miếng tranh lợp nhà, lót ổ nằm cho ấm ở những nhà nghèo khổ…

Dùng liềm cắt lúa, cách cắt cây lúa tùy theo mùa : mùa nắng, cắt sát gốc, sau khi đập lúa xong, cây lúa không còn hạt nữa được trải ra phơi khô, gọi là rạ. Mùa mưa, chỉ cắt trên ngọn, về nhà đạp bằng chân, cây lúa không còn hạt nữa gọi là rơm, phơi khô dành làm thức ăn cho trâu bò. Phần dưới cây lúa nằm ở ngoài đồng sẽ mục, sau này người ta cày bừa dập nó xuống.

Cái liềm (tranh Henri Orger)

3/ Cặp néo :

Cặp néo là một dụng cụ khi gặt lúa thu gom những bó lúa đã cắt, không gom bằng tay, vừa mất thời gian, vừa dùng nhiều người, dành thời gian cho người cắt lúa cắt được số lượng lúa nhiều hơn. Cặp néo cũng dùng trong khi đập bồ, gom lúa lại thành bó lớn để đập, lợi hơn dùng tay gom từng bó nhỏ. Với số lúa trong cặp néo đập vào bồ, nếu dùng tay gom lại phải đập 3 lần mới hết.

Làm cặp néo : Dùng 2 đoạn cây có đường kính hơn 1cm, dài từ 30 – 40cm, chuốt vót trơn láng, thon đều, hay dùng 2 đoạn tre tròn, dài, cứng, thường một cây có đầu hơi nhọn. Cách  đầu của cây thứ nhất khoảng 2cm, dùng rựa bấm sâu vào xung quanh và gần khoảng giữa cây thứ hai cũng bấm sâu vào xung quanh, thành những đường rãnh, là nơi cột sợi dây vào cây cho dây khỏi tuột ra. Dây cột là dây gai hay dây vải, loại dây thật chắc, dài từ 25 đến 30cm. Một đầu sợi dây cột vào đầu cây thứ nhất và một đầu cột khoảng giữa cây thứ hai, nơi các rãnh. Thế là ta có một cặp néo để sử dụng. Khi gom lúa, người ta vòng sợi dây giữ chặt lấy bó lúa, hai đầu néo bắt chéo siết chặt vào nhau, còn hai đầu néo kia tay người cầm. Loại cặp néo này ngày nay không còn thấy nữa.

Néo bó lúa (Tranh Henri Orger)

4/ Bồ đập lúa :

Để tách hạt lúa ra khỏi bông lúa, nông dân dùng bồ đập lúa. Từ bồ có nhiều nghĩa : – Một vật dụng làm bằng những nan tre mỏng đan chéo và khít vào nhau, dùng để che chắn hay bao lại để chứa lúa, gọi là bồ lúa và có thể chứa khoai, đậu… – Một vật dụng để đập và hứng lúa, gọi là bồ đập lúa.

Tại bồ đập lúa, người ta dùng lực đập bông lúa vào vật rắn để tách hạt lúa ra. Còn cách dùng cào cỏ để đập vào bông lúa là cách dùng lực đập vào bông lúa, sẽ trình bày trong phần sau.

Từ xa xưa, người dân trong tỉnh sử dụng bồ đập lúa gọi là bồ thùng, là bồ đập lúa truyền thống. Từ năm 1960, người dân Khánh Hòa dùng một loại bồ du nhập từ tỉnh Bình Định, từ đó, loại bồ truyền thống, bồ thùng bị bãi bỏ dần, không ai dùng nữa. Sau năm 1975, nông cụ máy suốt lúa quay tua đạp bằng chân ra đời và được phổ biến vì tính hiệu quả về thời gian và công sức ít. Từ đó, bồ đập lúa cũng cũng dần dần biến mất.

  1. a) Bồ thùng là bồ đập lúa truyền thống của người nông dân trong tỉnh. Kiểu bồ này gồm có các phần chính :

– Cốt bồ :

Phần cốt bồ được làm bằng một cái khung như cái chuồng, rất chắc chắn. Có 4 trụ ở 4 góc và gắn 4 khung gỗ 4 bên. Các khung gỗ gắn vào các trụ bằng cách đục lỗ vô mộng, không đóng đinh. Đóng đinh dễ bị bật khung gỗ ra sau vài ba mùa sử dụng. Toàn bộ khung gỗ ấy được dựng đứng trên một tấm ván dày khoảng 4cm, gắn kết vào cũng bằng những lỗ mộng. Chung quanh 4 mặt của khung sườn gỗ, người ta đóng kềm thêm những khúc cây săng bằng cán rựa theo chiều dọc xuống áp má vào bề gáy ngoài của miếng ván gỗ đáy bồ. Người ta lại còn dùng những nan tre cật chẻ vót bằng ngón tay, đan bao quanh, kết thật khít liền nhau cả 4 mặt. Bấy giờ phần cốt bồ thành một cái hộc vuông kín cả 4 mặt xung quanh và mặt đáy, mỗi cạnh khoảng 1m.

Phần cốt bồ này được đặt lên trên 2 cây đà gỗ vuông coi như cái đế bồ, mặt đà gỗ rộng 1 tấc, đóng đinh và kháp mộng thật chắc vào cốt bồ, khi đẩy cốt bồ từ đám ruộng này đến đám ruộng khác không bị lỏng lẻo, “xục xịch” như người địa phương nói. Người ta tra thêm vào chỗ 2 đầu của 2 cây đà một sợi dây thật chắc để luồn cây khiêng bồ từ nhà ra ruộng và ngược lại. Nếu di chuyển bồ đập lúa từ đám ruộng này sang đám ruộng khác thì phải là ruộng khô. Hai người lực lưỡng lấy cây đòn luồn qua sợi dây ra sức kéo tới. Những người còn lại phụ sức đẩy mạnh phía sau cho cái bồ di chuyển. Muốn cái bồ di chuyển dễ dàng trên mặt ruộng, người ta tạo 2 thanh đế bồ, một thanh có một đầu thẳng, một thanh có một đầu cong.

– Thân bồ đập lúa :

Thân bồ là phần trên nối liền với cốt bồ phần dưới. Thân bồ có khung sườn bằng tre, 3 mặt được cấu trúc phình to rộng hơn cái khung cốt bồ ở dưới, bao quanh 3 mặt là những tấm mê đan kín bằng tre. Có 1 mặt trống phía trước đủ cho 2 người đứng đập lúa vào cốt bồ. Mặt sau thân bồ, kề trên khung sườn bằng gỗ có một cái lỗ vừa bằng nắm tay để luồn xuyên qua 1 cái cây khiêng thân bồ. Để cho thân bồ được kín và vững chắc thêm, người ta dùng phân trâu tươi trét kín lên 2 mặt trong và ngoài tấm mê thân bồ, tạo thành một lớp bao bọc dày cộm lên. Khi đập lúa vào bồ, người ta lại còn dùng một tấm bạt che lên trên thân bồ cho hạt lúa khỏi văng ra ngoài.

– Giường bồ :

Giường bồ là một cái sườn bằng gỗ đóng kết thành nhiều thanh gỗ hay miếng tre già, tựa như tấm vạt giường. Giường bồ đặt xéo lọt trong lòng cốt bồ, đầu dưới tiếp sát với tấm ván đáy cốt bồ, đầu trên làm 2 cái móc móc vào ở 2 bên cốt bồ và móc vào cây đà ngang vành của cốt bồ. Khi đập lúa lên giường bồ, giường bồ vẫn giữ nguyên vị trí, không di động nhờ vào những cái móc này.

Bồ đập lúa ngày xưa (Ảnh tư liệu)

  1. b) Bồ cót:

Bồ thùng sau này được thay bằng bồ cótBồ cót là bồ làm bằng những tấm cót đan chéo và kín bằng tre, có thể cuộn tròn lại thành khối trụ, dùng để đựng lúa, ngũ cốc : Lúa đầy bồ, khoai ngô đầy cót là như thế. Bồ cót có thể quay tròn tấm cót lại cùng kết hợp một số bộ phận khác thành bồ đập lúa. Sau khi sử dụng xong, tấm cót cuốn tròn lại, các bộ phận tháo rời ra, tiện dụng di chuyển và cất giữ hơn bồ thùngBồ cót du nhập từ Bình Định vào, dân trong tỉnh thấy tiện dụng nên thay thế bồ thùng và bồ thùng càng ngày càng mất dạng.

Các bộ phận của bồ cót đập lúa gồm có :

– Sườn bồ hay đế bồ gồm 2 cây đà dọc to bằng bắp tay, dài khoảng 1,3m. Bên trên 2 cây đà dọc, người ta đóng những cây đà ngang nhỏ bằng ngón chân cái dài gần 1m, đặt song song cách nhau 4 – 5cm, tạo thành một bề mặt phẳng. Đế bồ này là một cái bệ đế chịu đựng một lực kéo đẩy, gánh chịu một sức nặng của phần bồ bên trên khi đập lúa vào.

– Cái nong đặt lên trên cái sườn bồ (đế bồ), nơi cái nong tiếp giáp 2 cây đà dọc của sườn bồ (tiếp giáp 4 điểm), người ta gắn 4 cái chốt để giữ cái nong không xê dịch được trên sườn bồ khi đập lúa. Những hạt lúa rơi rụng vào cái nong này khi người đập những bó lúa trên giường bồ.

– Cót bồ đan bằng nan cật tre khá dày, chiều dài có thể đến 4m. Tấm nan tre được cuộn tròn kết lại thành hình trụ có đường kính từ 1m đến 1,2m, chiều cao 0,6m, hai mặt trên dưới để trống. Vành tròn 2 đầu cót bồ được cạp vào những mảnh tre già, nức bằng dây mây chồng chéo lên nhau thật vững chắc. Vòng tròn bao quanh chính giữa thân cót bồ cũng nức thêm một vòng cạp tre nữa. Chung quanh bồ còn cạp những cây dọc xuống, tạo thành một cái bồ rất cứng, vững, có sức chịu đựng sự va đập mạnh. Cốt bồ đặt gọn trong vành tròn cái nong. Nhờ có vành nong bao giữ chân cót bồ, nên khi đập lúa, không bị xê dịch. Bên trong lòng cốt bồ có đặt một cái giường bồ, kiểu dáng và cách đặt như ở bồ thùng miêu tả ở trên.

Khi đập lúa, tiếng địa phương còn gọi là đập bồ, người ta phải dựng kết vào xung quanh cốt bồ 6 cây săng, mỗi cây dài khoảng 2,5m, có đường kính khoảng 2cm. Sau đó, người ta dùng tấm bồ nan dừng xung quanh cốt bồ, chừa lại một khoảng trống cho người đứng đập lúa. Tấm bồ nan áp sát vào 6 cây cột săng, dùng dây sóng lá cột chắc tấm bồ nan vào cột. Chân dưới tấm bồ nan phải lọt vào vành tròn cốt bồ để khi đập lúa, lúa không văng ra ngoài.

Việc di chuyển bồ cót trên đám ruộng khô đang thu hoạch cũng giống như việc di chuyển bồ thùng. Sau khi thu hoạch lúa xong, bồ cót được tháo ra từng bộ phận, chia nhau xách về nhà, vừa nhẹ nhàng, gọn gàng hơn bồ thùng.

Bồ cót được nông dân sử dụng một cách rộng rãi cho đến khi xuất hiện máy tuốt lúa đạp bằng chân, bồ cót cũng dần dần mai một như “số phận” của bồ thùng.

Lúa đã thu hoạch xong đem về đập (Tranh Henri Orger)

5/ Cái cào cỏ đập lúa:

Cái cào cỏ có 2 loại :

  • Loại dùng để cào rơm rạ trên khô, dùng để khi đạp lúa, khi phơi rơm.
  • Loại cào cỏ dùng để cào trên ruộng nước, cào nhau lúa hay cỏ bị héo úa khi cây lúa còn nhỏ, chưa trổ bông như đã miêu tả ở trên.

Còn cái cào cỏ trên khô dùng để đập lúa là một dụng cụ dùng lực đập vào bông lúa để tách hạt lúa. Cái cào cỏ này được cấu tạo bằng một khối gỗ hình chữ nhật có bề dài 20cm, bề rộng và cao 4cm. Trên khối gỗ đó, người ta đục một hàng lỗ, tra vào đó 6 cái que bằng tre dài khoảng 10cm, gọi là răng cào. Cuối cùng, người tra vào đó một cái cán dài hơn 1m. Ngoài việc dùng cào này để cào rơm rạ,  cào cỏ khô, người ta còn dùng cào này trong việc đập lúa.

Ngày trước, người nông dân còn dùng đôi chân của mình đạp lên bó lúa chín rồi dùng chiếc cào cỏ đập vào bó lúa để hạt lúa rơi rụng ra từ những bông lúa. Khi đó, chiếc cào cỏ được coi là một dụng cụ đắc lực cho việc đập lúa của người nông dân. Người đạp lúa, hai tay cầm hai chiếc cào cỏ để chống trên mặt đất giữ thăng bằng khỏi té khi hai chân họ thoăn thoắt giẫm đạp, vo tròn hai bó lúa từ trong ra ngoài, kéo đẩy từ ngoài vào trong cho hạt lúa chín rơi rớt ra. Có lúc, họ dùng một trong hai cái cào để bấm mạnh vào các bó lúa kéo ra để đạp, hay đập nhanh đập mạnh lên bó lúa cho mau rụng hạt …trong khi hai chân vẫn đang giẫm đạp rất nhanh. Nếu không có sự điều hòa, ăn khớp của đôi chân và đôi tay cầm cào thì chỉ một chớp mắt, cả cái cào sẽ đập mạnh vào chân gây tai nạn ngay. Nhìn người đạp lúa với 2 cái cào, ta như đang xem một vũ điệu của những vũ công lành nghề, thật uyển chuyển, nhịp nhàng, rất linh động. Do đó, coi như hai cái cào phụ sức cho đôi chân trong công việc đạp lúa này.

Sau khi không còn hạt lúa nào trong bó lúa, người ta dùng cào cào rơm rạ ra khỏi những hạt lúa, gom lại thành đống, thay vì dùng tay. Như thế, ta thấy chiếc cào cỏ nhỏ gọn, cấu trúc đơn giản như thế nhưng cũng có nhiều công dụng, giúp cho người nông dân đỡ tốn sức lực. Nông dân trong tỉnh không dùng trâu bò để đạp lúa như những nơi khác, nên chiếc cào đã đắc lực giúp họ lấy được hạt lúa chín.

Người đang đập lúa và vò rơm (Hình trích trong Connaissance du Việt Nam)

Tại huyện Ninh Hòa, sau khi lúa đạp xong, người ta dùng cào cỏ để “kiểu lúa”. Chữ kiểu 矯là mượn từ Hán – Việt có nghĩa là sửa cho đúng lại. “Kiểu lúa” tức là sau khi lúa đạp rụng hạt xong, người nào đạp những bó lúa nào thì vun lại thành đống tròn cho mỗi người, rồi dùng cào cỏ cào vung mạnh ra từng đợt mỏng, dùng chổi tàu cau quét lá lúa và bụi ra một đầu. Công việc này cứ tiếp tục làm các đống lúa khác cho đến khi xong tất cả các đống lúa của những người đạp. Đống lúa đầu sau khi tách ngọn và bụi ra là đống lúa gốc, chắc hạt. Khi chia lúa trả công thì lấy lúa này trả công.

Nhưng nông dân ở huyện Vạn Ninh thì không làm theo cách “kiểu lúa” này mà dùng cách “sảo lúa”. Từ sảo 稍 cũng là mượn từ Hán – Việt có nghĩa là hơi hơi chút ít thôi, tức là làm qua loa. Làm theo cách “sảo lúa” thì dùng cái rổ sảo mà người nông dân nào chuyên nghề đi gặt lúa mướn đều có cái rổ sảo này và tất cả những nhà nông đều có đôi ba cái rổ sảo.

Khi lúa đã được đạp xong, người ta hốt đống lúa vừa đạp xong bỏ vào cái rổ sảo rồi đứng sàng. Hạt lúa rơi xuống nia qua những lỗ của rổ sảo và bên trên rổ còn lại là lá và rơm. Như vậy, cách “sảo lúa” ở huyện Vạn Ninh không được sạch bằng cách “kiểu lúa” ở huyện Ninh Hòa. Ngày nay, cái rổ sảo cũng dần biến mất vì không ai dùng nữa.

6/ Bàn trang thóc :

Sau khi tách hạt lúa ra khỏi bông lúa, hạt lúa bây giờ gọi là thóc được đem phơi khô. Thóc cần được phơi thật khô, có như thế sau này đem xay hạt gạo sẽ không bị nát và thóc khô sẽ  không bị mọt. Nhưng nếu quá trình làm khô nhanh quá, hạt thóc sẽ  bị giòn, dễ gẫy. Do đó, theo kinh nghiệm, người ta phơi thóc nhiều đợt cho khô dần, khô đều, tránh nắng gắt. Bàn trang thóc là một dụng cụ dùng để san thóc, đảo thóc khi thóc được phơi trên sân nắng cho thóc khô đều.

Bàn trang thóc làm bằng một miếng gỗ hình chữ nhật hay hình thang cân, rộng 19 – 20cm, dài 35 – 40cm. Ở giữa bàn trang, có một cái lỗ tròn để tra cán trang vào. Độ rộng cái lỗ vừa bằng độ to của cán bàn trang. Cán bàn trang làm bằng tre tươi, có độ lớn vừa cầm, dài khoảng 2m.

Cào thóc bằng cái bàn trang thóc (Tranh Henri Orger)

7/ Cái quạt dê lúa :

Thóc sau khi phơi có lẫn vào rơm, hạt lép, hạt thối. Gạo, sau khi xay giã cũng lẫn trấu vào. Để tách những tạp phẩm ấy ra, cách đơn giản nhất là người nông dân dùng sức gió. Công việc dùng sức gió để tách các tạp phẩm ấy ra, người miền Bắc gọi là RÊ LÚA GẠO, người miền Trung, Nam gọi là DÊ hay GIÊ LÚA GẠO. Người dân trong tỉnh thì gọi là DÊ lúa gạo.

Khi trời có gió khoảng cấp 3 cấp 4, người ta bưng thúng thóc đứng thẳng góc với hướng gió thổi, nâng thúng lên, từ từ trút thóc xuống trên nia. Những thóc lép, rơm rác nhẹ sẽ bay ra xa khỏi nia, còn hạt thóc chắc vì nặng nên rơi xuống nia. Còn khi dê gạo thì trấu được tách ra. Thông thường, người ta làm sạch trấu bằng cách sãy gạo với cái nia.

Dê lúa trước gió (Ảnh Trần Cao Lĩnh)

Nếu trời không có gió, người ta dùng cái quạt, gọi là quạt dê lúa gạo. Sườn quạt được đan bằng nan tre cứng, hình chữ nhật, dài khoảng 0,8 – 1m, rộng 0,6 –  0,8m, có tay cầm. Trước đây người ta phất lên quạt giấy bổi là loại giấy thô làm bằng các nguyên liệu thừa, không được tốt lắm. Sau này, có giấy báo, giấy xi măng (giấy làm bao đựng xi măng) người ta đem phất lên quạt, dùng keo hồ cho giấy dính chặt vào nan tre. Quạt có tay cầm được làm bằng một cái ống tre nhỏ trơn láng.

Quạt dê lúa (Hình trong  Tự điền hiện vật văn hóa … )

Khi dê thóc, gạo, một người bưng thúng thóc, gạo đổ từ từ xuống nong nia, một người đứng sau cầm quạt quạt liên tục, quạt mạnh cho rơm rác, thóc lép bay khỏi thóc. Nếu thóc gạo ít thì đàn bà con gái dùng quạt quạt được. Nhưng khi lúa nhiều vào ngày mùa, việc quạt dê phải phải do đàn ông trai tráng có sức mới làm nổi.

Khi nhà không có quạt dê lúa, người ta dùng chiếc chiếu đứng kẹp ở chân quạt lúa để thay cái quạt.

Dụng cụ quạt thóc (Tranh Henri Orger)

Quạt thóc (Tranh Henri Orger)

Cách dê lúa và dùng quạt, chiếu dê lúa kể trên rất mệt nhọc, nên hình như mai một vào khoảng năm 1986. Những năm 60, tại làng quê Khánh Hòa có chế ra cái máy quạt dê lúabằng cách nắm tay quay cánh quạt giảm nhẹ được công sức lao động hơn. Cái xa quạtlúa (xe quạt lúa, miền Bắc gọi là quạt hòm), đóng bằng gỗ, gọi là xe nhưng không có bánh xe và không ai ngồi vào mà lái. Cái xa quạt này di chuyển là do người khiêng đi.

Cấu tạo của nó gồm :

  • Mâm đựng lúa hình phễu để đựng lúa cần quạt, có miệng vuông cho lúa chảy xuống. Đáy phễu có hai miếng gỗ để điều chỉnh cho lúa xuống nhanh hay chậm.
  • Các ngăn, hộc gồm 2 hộc đặt sát bên nhau: Hộc ngay dưới đáy phễu đựng lúa chắc, hộc kia nằm lệch về phía gió thổi hứng lúa lép, rác…Trên hộc này có lỗ thoát bụi bậm bay ra.
  • Thùng quạt hình khối chữ nhật có 4 chân đứng vững chắc.
  • Quạt chong chóng có 4 cánh gắn với trục tay quay, quay theo kim đồng hồ. Toàn bộ xe quạt lúa được làm bằng gỗ, ngoại trừ thùng quạt và cánh quạt bằng tôn (trước làm bằng gỗ), có chiều cao 1,10m, (kể cả phần chân đứng), dài 1,50m. Hai cây khiêng đóng nẹp chặt hai bên thùng quạt, mỗi cây dài 2,40m để khiêng đi. Người ta quay tay quay, tạo thành sức gió để tống rơm rác, lúa lép ra một hộc, còn lúa tốt, chắc rơi vào một hộc. Có máy người ta thiết kế cho hột lúa chắc, tốt rơi ra ngoài, được hứng bằng một cái thúng.

Máy quạt dê lúa (Ảnh NVB) (Ảnh chụp tại khu du lịch Nhà Xưa Ông Hai Thái Diên Khánh)

8/ Cái mỏ gảy :

Nông cụ có tên là cái mỏ gảy này là gọi theo đặc tính (hất lên, gảy lên), và theo hình dạng của nó. Công dụng của cái mỏ gảy là trộn rơm rạ đang phơi khô. Gảy hất đi hoặc hất lên bằng đầu của một vật giống hình dạng của cái mỏ chim nên gọi là cái mỏ gảy. Rơm rạ phơi khô là lương thực chính của trâu bò trong những ngày mưa gió lũ lụt. Nhà nào có nuôi trâu bò đều có nhũng cây rơm rạ khô phủ lên trên một cái dàn cây vững chắc. Và nhà đó không thể không có cái mỏ gảy.

Cái mỏ gảy được tạo thành như sau :

Cái mỏ gảy có hình thù giống như chữ Y, có cán dài và hai cái càng hình chữ V

Chọn 1 cây tre đực thật già dài khoảng 1,5m, có đường kính khoảng 4 – 5 cm, đoạn trên thẳng, đoạn dưới  hơi cong, chặt sát gốc, đem ngâm sâu dưới bùn ao phòng mối mọt ăn sau này khi sử dụng. Ngâm cây tre hơn một tháng, tiếng địa phương gọi là “tre đã chín”, đem tre lên, chẻ đều làm hai nơi phần gốc, từ gốc lên dài khoảng 50cm (khoảng 1/3 của cán), rồi đem phơi khô cho tan bớt mùi hôi thối.

Sau đó người ta vót ở đầu hai phần chẻ đôi, thành một mũi nhọn như cái mỏ con chim hay như cái mũi sừng trâu. Dùng  một cái vòng sắt còng thật sát vào đoạn tre nơi cuối phần đã chẻ đôi (cách gốc khoảng 0,5m đã nói trên). Người ta dùng một chốt cây hình khối tam giác nêm sát vào chốt cây nơi cây bị tách đôi mà đỉnh nằm sát vào chỗ tách có vòng sắt cùm lại. Để cho miếng nêm hình khối tam giác đó cố định, không bị rơi ra, người ta dùng đinh đóng vào hai bên phần chẻ đôi vào khối tam giác đó. Như thế, phần thân cây tre còn lại không thể tách ra được nữa. Bấy giờ, phần dưới hơi cong của đoạn tre bị tách ra làm hai đó, tạo thành hình dáng của cái mỏ gảy.

Muốn cho rơm khô đều, người dùng dùng cái mỏ gảy này để xốc lên, trộn xuống.

Trong Tự điển hiện vật văn hóa các dân tộc Việt Nam (sđd) có hình (xem hình) và một đoạn viết về cái mỏ sải, cách gọi tên ở miền Bắc gọi cái mỏ gảy, là “Dụng cụ gom rơm, rạ, cỏ, còn gọi là cặp hay càng gẩy rơm, có hình chạc cây “ (trang 662).

Ở miền Nam, dụng cụ trên, theo Tự vị của Huình Tịnh Paulus Của còn gọi là cái mỏ xảy, là “cây dài có hai chia uốn cong, để mà đánh rơm cỏ”.

(còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *