VI ĐƠN VỊ VÀ  DỤNG CỤ DÙNG  TRONG ĐONG LƯỜNG  LÚA  GẠO NGÀY TRƯỚC TRONG NƯỚC VÀ TRONG TỈNH

  • Đơn vị và dụng cụ đong lường lúa gạo ngày trước trong nước:

Dụng cụ đo lường lúa gạo ngày trước thường gọi là cái hộc, còn các vùng còn có cái lươngcái ang toàn làm bằng gỗ, khối vuông. Mỗi hộc thời thuộc Pháp bằng 60 lít gạo. Tự điển Taberd 1838 có ghi hộc chứa 5 đấu (trg.205). Còn lương lúa có 4 hộc lúa.

Có vùng, cái hộc dùng để đong lúa, còn gọi là cái vuông dùng để đong gạo đã giã, do cái vuông dùng 3 mảnh gỗ hình vuông ghép lại.  2 vuông lúa = 1 vuông gạo. Vuông còn gọi làgiạ (xem dưới, mục B/1).

Ang  cũng là đơn vị đong lường lúa như hộc hoặc lương (1 lương lúa = 4 hộc lúa = 4 ang lúa) (Nhà tôi có một cái ang / Đổ lúa bảy làng, thêm nước còn lưng). Ang cũng làm bằng gỗ khối vuông, gạt lúa bằng ống tre, có nơi người ta còn đan ang bằng nan tre (Theo Từ điển tiếng Huế (sđd) của Bùi Minh Đức)

Phủ biên tạp lục (sđd) của Lê Quý Đôn cũng có ghi phép đo cũ ở Thuận Hóa : – 10 toát(nhúm, Hội điển còn gọi là sao) = 1/1.000 thưng = 1 thược. – 10 thược = 1 cáp (Hội điển còn gọi là hợp). – 10 cáp = 1 thưng. – 10 thưng = 1 hộc. – 10 hộc = 1 thùng (trang 164)

Tự vị Tiếng Việt miền Nam (sđd) của Vương Hồng Sển, “ theo Alfred Schreiner, thì : – 1 hộc= 26 thăng = 71 lít 765. – 1 thăng = 10 hiệp = 2 lít 765. – 1 hiệp = 10 thược = 0 lít 027. – 1 thược = 0 lít 027 “ (trang 318).

  1. Đơn vị và dụng cụ đong lường lúa gạo ngày trước trong tỉnh:

1/ Cái giạ : 

Cái giạ là dụng cụ đong lường lúa thóc thường dùng ở trong tỉnh. Thời Nguyễn, sắc cho dân làm cái đấu và cái thưng dùng đong lúa gạo, có quy định thước tấc, mỗi cạnh 21cm. Đến cuối thế kỷ thứ 19, đất đai rộng mở, lúa gạo ngày càng nhiều, nông dân mới làm ra cái giạ lớn hơn để đong lúa gạo được nhiều và mau hơn. Một giạ này bằng 26 đấu. Cái giạ hình khối vuông, mỗi cạnh 26cm, cấu tạo bằng 4 mảnh ván đóng ghép lại mà thành, gọi là giạ hộc vuông. Hai bên giạ, người ta đóng hai thanh gỗ để làm tay cầm. Có nơi trong tỉnh, người dân còn dùng cái giạ được đan bằng nan hình tròn, được viền bao quanh 3 vòng cây mây lớn, gọi là giạ nan tròn (hiện nay có gia đình ở huyện Vạn Ninh còn giữ, đáy giạ bị mục, xem hình). Khi bưng giạ đựng lúa, hai tay phải bám vào vòng mây ở giữa. Thời thuộc Pháp, thu lúa bằng giạ hộc vuông có cạnh bằng 50cm. Có vùng chính quyền chuẩn hóa cái giạ bằng cách quy ra đơn vị là lít, cứ 1 giạ = 40 lít. Tuy nhiên dân mình vẫn quen dùng đơn vị đong lúa bằng giạ hơn.

Cái giạ hộc vuông bằng gỗ (Ảnh VTD)

Dù giạ nan tròn hay giạ hộc vuông đều có số lúa chứa bên trong ngang miệng quy ra ký lô gram, được 9 kg, nếu đong vun có ngọn là 10kg. Người dân trong tỉnh ngày trước chỉ đong lúa gạt ngang miệng để tính, không đong vun, Người ta dùng một ống tròn cây lồ ô để gạt miệng giạ. Theo tập tục, cái giạ phải để ngửa, không được để úp miệng lại, như thế là trù gia đình họ bị mất mùa, không có lúa để đong.

Sau khi có giạ hộc vuông để sử dụng, cái giạ nan tròn dần dần bị mục nát, ít ai tạo ra để dùng và vắng bóng những năm 60 – 70 trở về sau.

Cái giạ nan tròn (Ảnh VTD)

Trong việc tạo ra cái giạ, mỗi gia đình người nông dân bình thường đều có 1 cái giạ thống nhất chứa một trọng lượng 9kg thóc lúa. Nhưng tại một số các gia đình địa chủ, giàu có hồi trước chuyên thu mua lúa, cho vay lúa lấy lãi thường tạo ra 3 loại giạ : giạ 9kg, giạ non ít hơn 9kg, khoảng 8,6kg và giạ già nhiều hơn 9kg, khoảng 9,3kg. Nếu mua bán lúa bình thường, họ đong lường bằng cái giạ 9kg. Trường hợp họ cho vay lúa, khi đong lường cho người vay, họ đong giạ 8,6kg, khi thu lúa vô, họ đong lường bằng giạ 9,3kg. Sự gian tham bóc lột đó còn nặng nề hơn khi họ thu lãi xuất  trong một vụ mùa đến 15%, tức vay 10 giạ (họ đong bằng giạ non), người vay phải trả 15 giạ (họ đong bằng giạ già).

2/ Cái cảo :

Nông dân trong tỉnh còn có một dụng cụ để đong lường lúa với trọng lượng ít nữa, đó là cái cảo. Cái cảo đan bằng tre chẻ mảnh như đan cái rổ xúc cá, hình khối tròn, đường kính khoảng 0,25m hoặc nhỏ hơn. Lỗ cảo nhỏ hơn hạt lúa, lòng cảo sâu xuống hơn nửa khối tròn. Số lúa đựng trong cái cảo đầy vun tương ứng với 3kg hay hơn 3kg tùy theo cỡ cảo. Cảo còn dùng để rửa rau, đựng rau quả hay các vật dụng khác.

Cái cảo để đong lường lúa thường dùng cho những người cắt lúa đập bồ chung với một bầu đoàn. Khi chia lúa ăn công vào cuối mỗi chiều, số lúa còn lại không thể chia đủ cho nhau bằng cái giạ, phải dùng cái cảo để chia. Nếu thêm được mỗi người 1 cảo, có người nói đùa là cái giạ lúa có 1 sợi râu2 cảo là 2 sợi râu. Những người bán hàng rong như chè, đậu hủ, kẹo bánh hay bún bò cho đám thợ gặt, thay vì lấy tiền, có người đổi lấy lúa và lúa đó được đong bằng cái cảo. Cái cảo rồi cũng theo thời gian mà biến mất.

3/ Cái bơ đong gạo :

Dùng đong gạo nấu cơm hay bán gạo cho khách hàng, người dân thường dùng cái bơ. Không hiểu cái bơ có tự lúc nào. Có người nói rằng có từ thời Pháp thuộc, người dân lấy cái lon đựng bơ (beurre) của chúng sau khi chúng dùng xong làm dụng cụ đong gạo. Sau này thay lon bơ bằng lon sữa bò.

Trước khi có lon bơ, lon sữa bò đong gạo, người dân dùng cái giạ để đong. Nhưng những người bán gạo lẻ (hàng xáo) thì lấy gì để đong ?

Có một bức hình vẽ  trong cuốn Connaissan du Việt-Nam của Pierre Huard và Maurice Durand, sđd, hình số 77 (trang 188) được ghi chú Marchande de riz. Người đàn bà bán gạo

Người đàn bà bán gạo (Hình trích trong Connaissance du Việt Nam)

Qua hình vẽ ta thấy người bán gạo đổ gạo qua cái rổ bằng một dụng cụ giống như cái tô (miền Bắc gọi là cái bát) gọi là cái ôViệt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (sđd) bản in năm 1931 giải thích từ Ô như sau : Đồ dùng để đong, để đựng hình như cái đấu : Ô gạo. Tự điển cũng giải thích thêm chữ đấu như sau : Đồ dùng để đong thóc gạo.  Từ điển tiếng Huế (sđd) của Bùi Minh Đức giải thích cái ô  như sau : Ô (đấu) : Dụng cụ để đong gạo hồi xưa, dùng “ống” là ống tre để gạt gạo khi đong. Ông Tôn Thất Thuyết đã chém một người bán hàng vì đã dùng tay gạt ngang ô khi đong gạo, cố ý đong ít gạo cho khách hàng. Sau này, dùng lon sữa bò đong gạo và dùng tay gạt ngang để đong. Ô làm bằng gỗ, như cái tô lớn, còn gọi là “đấu” (Ô ống là đồ nghề của con nhà buôn gạo).

Như thế cái ô là 1 dụng cụ đong lường trước khi có cái , rồi cái lon sữa bò. Cái ô này được người già cho biết tiện bằng gỗ mít, nhưng chưa biết kích thước nó như thế nào, vì có cái to, cái nhỏ, cái cạn, cái sâu. Cái ô đong gạo này kèm theo một lóng tre dùng để gạt gạo cho phẳng ngang miệng tô.

Như vậy coi như cái ô là dụng cụ đong gạo truyền thống. Từ ngày tiếp xúc với Tây Phương, cái bơ và cái lon sữa bò thay thế, dần dần cái ô coi như biến mất.

Trung bình một bơ gạo bằng nửa ký. Một bơ gạo gạt ngang miệng gọi là séc bơ. Cái bơ hay lon sữa bò nếu nong đáy lên là bơ non, nong đáy xuống là bơ già.

Tục lệ ngày xưa kiêng lật úp bơ quay đáy trong lu gạo, sợ hết gạo dẫn đến sự đói khát. Bơ phải lật ngửa lên và trong bơ phải có gạo.

VII. NHỮNG VẬT  DỤNG BẢO QUẢN THÓC LÚA

Thóc sau khi phơi khô, dê sạch, đến giai đoạn bảo quản. Người ta trữ thóc bằng nhiều cách, nhiều vật dụng sau :

1/ Cái bồ lu :

Chữ BỒ ghép với một từ khác trong vật dụng xưa, ta có BỒ CÓT, CỐT BỒ, BỒ LU, BỒ NAN …là những vật dụng được đan bằng nan to mà mỏng, đan khít.  

Người ta trữ lúa hay ngũ cốc trong cái bồ lu. Bồ lu được đan bằng nan tre, giống tre cật, có chiều cao từ 1m đến 1,2m, hình tròn khối trụ, cấu trúc giống như quả bầu, mặt đáy bằng, miệng túm lại, đường kính khoảng 0,6m. Nan đan bồ lu có bề rộng hơn 2cm, độ hơi dày đều nhau. Đan bồ lu, sườn dọc đan bằng tre cật, đan giống đường kinh tuyến quả đất, còn đường vòng bao bọc như đường vĩ tuyến. Đường vòng này đan bằng tre chẻ nghiêng, tức là vừa có mặt cật, vừa có mặt ruột. Khi đan xong, người ta lấy phân trâu tươi chà trét kỹ lên chung quanh mặt ngoài thành một lớp dày, bịt kín tất cả mọi lỗ hở lớn nhỏ. Sau đó, người ta đem phơi dưới nắng chói chang cho khô, mùi hôi cũng dần bay mất.

Bồ lu có lượng chứa lớn, dễ di chuyển. Thóc hay ngũ cốc đựng trong bồ lu có nắp đậy kỹ phòng chuột cắn phá. Người ta còn dùng bồ lu để bắt chuột. Bồ lu trống rỗng, người bỏ vào đó một ít thức ăn hấp dẫn, loài chuột bò lên và chui qua miệng bồ lu. Khi chuột đã vào bồ lu rồi thì khó mà ra được. Sau đó, người ta thả con mèo vào, đậy nắp lại, thế là bữa đó, con mèo được một phen no bụng mà không nhọc nhằn rình bắt gì. Bồ lu lại kín, giữ được độ ấm nên mùa lạnh, ngũ cốc cất giữ trong bồ lu không bị ẩm mốc.

2/ Cái bồ nan :

Người ta còn dùng cái bồ nan để cất trữ lúa. Trong đa số nhà làm nông, ít nhất có 1 bồ nan, đó là do ít lúa trữ, nếu nhiều lúa trữ phải có 2 – 3 cái bồ nan.

Bồ nan đan bằng nan tre, được chẻ vót thành 2 cỡ :

– Một cỡ gọi là nan sườn có bề mặt khoảng 1cm, chẻ dày. Nan sườn cũng có 2 loại, nan cật và nan ruột. Nan sườn phải chẻ cho dài, vót chuốt cho đều. Nan cật và nan ruột phải có cùng một kích cỡ.

– Một cỡ gọi là nan dọc có bề mặt bằng 1/3 nan sườn, được chẻ nghiêng, tức là sợi nan vừa có cật, vừa có ruột.

Người ta còn phải làm một vật dụng gọi là cây cỡ. Cây cỡ tùy theo chiều cao cái bồ định làm, 1m hay 1,3m. Công dụng của cây cỡ là để giữ lằn mức cố định cho hai bên đường sườn bờ ở hai bên bìa, khi đan nan cái bồ nan, nhờ cây cỡ, bồ không có chỗ rộng chỗ hẹp.

Khi bắt đầu đan phải gầy sườn bồ. Đặt cây cỡ xuống đất. Sát bên trong hai đầu cây cỡ, thả dài 2 đường biên, mỗi đường có 2 sợi nan nằm song song sát nhau, nan cật phía ngoài, nan ruột phía trong. Những đường nan sườn ở khoảng giữa cũng thả nằm nan đôi, kề nhau một nan cật, một nan ruột. Khoảng trống cách nhau giữa 2 đường sườn nan là 3cm.

Gầy sườn bồ xong là đan long mốt bằng những sợi nan dọc. Khi sợi nan dọc qua đụng sườn biên thì dùng sóng cây rựa nhỏ đập nhẹ lên trên sợi nan phía ngoài sườn biên, chỉ vừa đủ dập cọng nan mà thôi. Đoạn, quai chéo ngang chỗ dập ấy lại, rồi bẻ sợi nan vào trong, và tiếp tục đan qua đường biên phía kia, khi gặp đường biên phía kia cũng làm những động tác y như vậy. Sau mỗi lần đan xong một đường, lấy một miếng gỗ vỗ nhẹ đường nan ấy cho kết sát vào đường bên trong. Cây cỡ tuần tự dịch ra phía trước để giữ mức chuẩn cho chiều rộng (khi dựng đứng lên là chiều cao) của cái bồ nan y như từ đầu đến cuối trong quá trình đan.

Trong quá trình đan, gặp sợi nan sườn nan dọc ngắn phải biết giấu mí nối. Bồ đan cao hay thấp, rộng hay hẹp tùy theo người đặt hàng.

Sau khi bồ nan đan xong, người ta dùng bó tranh đốt cháy rà qua lại trên mặt trong ngoài của bồ để những sợi lông tre cháy cho bồ sạch sẽ.

Đan một cái bồ nan tốn khá nhiều công, nên số tiền bán bồ được quy định bằng 1/10 tổng số tiền bán lúa chứa trong bồ. Ví dụ bồ nan chứa một thiên lúa (tức 100 giạ) thì cái bồ được bán tương đương với 10 giạ (tức 90 kg). Bồ nan rộng và cao có sức chứa nhiều nhất không quá 300 giạ. Nếu bồ nan chứa quá sức chứa, sợi dây bao quanh bồ bị đứt, lúa sẽ bị đổ ra. Người ta có thể chứa lúa thành 2 tầng bồ. Nếu nhà nhiều lúa, cỡ 3 ngàn giạ trở lên (chủ yếu nhà địa chủ, hào phú) thì họ dùng cái lẫm để chứa.

Chứa lúa trong bồ nan phải có cách bảo quản cẩn thận. Nơi đặt bồ nan chứa lúa phải cách mặt đất khoảng 0,3m. Người ta phải làm cái dàn bồ : lấy gạch xếp kín trên mặt đất hình vuông, với diện tích lớn hơn diện tích đáy cái bồ nan một chút. Sau đó, dùng trấu đổ lên dày 0,3m. Bên trên trấu, người ta đặt cái nong và vây tròn bồ nan đứng gọn trong cái nong đó. Sau ghim cột quanh cái bồ nan bằng dây dừa thật chắc chắn, bấy giờ người ta mới đổ lúa vào để bảo quản. Cách bảo quản này thời gian kéo dài 2 năm, lúa vẫn không bị mục. Ngày xưa, người nông dân làm lúa gòn mỗi năm một vụ, có năm mất mùa, do đó việc dự trữ lúa ăn rất quan trọng. Nếu trữ không kỹ, lúa mục hay bị lụt lội làm hư lúa thì họ phải chịu cảnh đói khát.

Cái bồ nan trữ lúa (Ảnh NVB) (Hình chụp tại khu du lịch Nhà Ông Hai Thái (Diên Khánh)

Ngày nay không ai dùng bồ nan để trữ lúa nữa. Nông dân hay nhà buôn họ trữ lúa trong bao ny lông, hay thu hoạch xong họ bán liền, lấy tiền ra chợ mua gạo về ăn.

3/ Cái lẫm :

Như đã trình bày về cái bồ nan, nhà nào có nhiều lúa trữ phải dùng cái lẫm. Chữ lẫm 廩 là từ Hán Việt có nghĩa là kho đụn chứa lương thực. Lớn hơn lẫm nhiều lần là thương 倉 . Thời phong kiến, kho lương của nhà nước gọi là quốc thương do quan Thủ Thương, hàm chánh tòng ngũ phẩm trông coi. Cái lẫm trữ lúa chỉ có ở những nhà địa chủ lớn, một vụ thu vô 3 – 4 muôn lúa (3-4 ngàn giạ) trở lên, bồ nan không thể chứa hết được.

(Ngày trước, một trăm giạ lúa, người dân không gọi là bá lúa mà gọi là thiên lúa, nghe qua tưởng là 1 ngàn giạ, nhưng kỳ thật có 1 trăm giạ. Còn có 1 ngàn giạ lúa không gọi là thiên lúa mà gọi là muôn, nghe qua tưởng đâu có 10 ngàn giạ. Các cụ già cho rằng gọi việc đong lường trái ngược nhau như thế là có ý nói quá, nâng cao sản lượng trong việc thu hoạch cho bà con nông dân phấn khởi và cũng là một lời chúc, một ước vọng. Cũng như chúc vua vạn tuế, vạn vạn tuế vậy).

Cái lẫm được thiết kế trong một ngôi nhà rộng ba gian, xây dựng ở những vùng cao không bị ngập lụt. Hai gian hai bên có diện tích rộng thiết kế thành 2 cái lẫm. Gian giữa hẹp hơn là nơi người ta chuyển lúa vào hay xuất lúa ra. Gian làm lẫm ba mặt là vách tường. Còn một mặt trong nhà hoặc đóng kín bằng ván gỗ hay tường làm bằng đất, có chừa một cái cửa bề cao lên đến cây trính, bề rộng phải lớn hơn cái thúng cái khi đưa thúng đổ lúa vào. Cửa này là nơi người ta đổ lúa vào. Có những tấm ván tấn ở cửa, cao khoảng 0,5m. Khi đổ lúa vào lẫm đầy đến 0,5m, người ta tấn tấm ván khác lên trên để tiếp tục đổ lúa vào. Rồi cứ thế mà đổ cho đến tầng 3, tầng 4 … đến khi nào lẫm đầy lúa thì thôi. Nơi vách gần cửa lẫm, người ta chừa một cái ngách tra vào đó bằng một cái máng xuôi miệng, một miếng gỗ đặt nơi miệng máng. Khi lẫm đầy lúa, cần xuất lúa từ lẫm thì rút miếng ván ở miệng máng cho lúa chảy ra, lấy đủ số thì đóng miếng ván lại. Trong nền lẫm, người ta lót gạch, cho trấu vào trên lớp gạch cao khoảng vài tấc, rồi lót những tấm bồ nan cách ly giữa trấu và lúa sẽ đổ vào sau này.

Người ta đổ lúa vào lẫm, tầng 1 dưới cùng, dùng thúng lường có 2 người khiêng. Những tầng kế trên đưa lúa vào bằng thúng cái và cao hơn nữa thì bằng thúng con cho nhẹ.

Ở những vùng thường xuyên bị lũ lụt, người ta vẫn xây nhà lẫm, nhưng trong nhà làm gác lửng có độ cao quá mức ngập lụt. Trên gác lửng đó, người ta làm khung bằng gỗ che kín bốn bên, đổ thóc lúa vào, hay lúa ít, họ quay bồ trên sàn gác để chứa lúa. Lên xuống lẫm này bằng cái thang gỗ.

Ngày nay ít khi thấy cái lẫm nào và hỏi “cái lẫm” là cái gì, đa số giới trẻ ngày nay cũng không hiểu đó là cái gì.

4/ Bùng binh :

Bùng binh (miền Bắc gọi là cái chum) là đồ dùng bằng gốm, ngày xưa người dân dùng để đựng gạo hay để bảo quản bắp, thóc giống, khoai sắn khô. Bùng binh là một khối trụ tròn, có miệng, có cổ, có vai, thân hình trên to dưới thon nhỏ dần, đáy phẳng. Bề cao của bùng binh có thể cao đến 0.7m, đường kính chỗ lớn nhất có thể 1m. Loại nhỏ thì cao từ 0,2 – 0,3 m, đường kính chỗ lớn nhất có thể là 10-15cm. Khi đựng gạo, hạt giống hay ngũ cốc, bùng binh phải được đậy kín hoặc miếng gỗ, vung đất hay nút rơm…

Cái bùng binh (Ảnh VTD)

5/ Cái xe rương :

Cái xe rương (có nơi gọi là cái rương xe) nguyên thủy không phải là vật dụng trữ lúa hay ngũ cốc. Người giàu, có nhà họ sắm xe rương để cất giữ vàng bạc châu báu hay vải vóc quý. Một số bá hộ có người thuê thợ mộc làm nhiều xe rương để dành. Mỗi khi con cái trong nhà lấy vợ gả chồng, họ chia phần tài sản đựng trong xe rương đó cho con cái làm của riêng. Những người con này, sau đó, gặp hoàn cảnh tan gia bại sản, không còn của cải nào nữa cất giữ trong rương, họ dùng cái rương để chứa thóc lúa, ngũ cốc hay bán lại cho ai đó cần. Từ đó, ngay những nhà nghèo trong huyện cũng có cái rương để trữ thóc lúa hay ngũ cốc.

Gọi là xe rương vì thùng rương được đặt trên một cái sườn, bên dưới có 4 bánh xe bằng gỗ căm xe, đường kính 30cm, khi cần di chuyển được. Thùng xe rương là một hình khối chữ nhật bằng gỗ. Tám góc của xe rương có những hình con dơi hay con giao chạm khắc bằng gỗ gắn chặt vào. Trên mặt rương có chừa một cái cửa và móc khóa.

Thóc gạo chứa trong rương phải được phơi khô, chứa được nhiều thóc, chống được chuột cắn phá, ít khi bị mọt và bảo quản được lâu.

Ở phía Bắc cũng có hòm bằng gỗ dùng chứa thóc, gọi là hòm cáng. Không những chứa thóc, hòm cáng còn là nơi bày bát hương và một số đồ thờ đơn giản trên mặt hòm. Ở bốn góc hòm còn có 4 cái chân bằng gỗ.

Cái xe rương  (Ảnh  Internet)      

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *